Mục hỏi đáp
:: Câu hỏi :: Tôi là thành viên ban kiểm soát (BKS) của Công ty đại chúng chưa niêm yết X nhiệm kỳ 2007-2010. Đến nay, tôi vẫn chưa hết nhiệm kỳ. Cả năm 2009, tôi được mời họp BKS của Công ty. Tôi cũng không hề được tham gia vào cuộc họp BKS để cho ra báo cáo BKS để trình ĐHĐCĐ năm 2010 ngày 9/4 vừa qua. Tôi được biết, báo cáo BKS này chỉ được xây dựng bởi Trưởng BKS (1 thành viên BKS còn lại cũng không được tham gia). Xin hỏi, việc vận hành của BKS như vậy có đúng luật hay không? Bản báo cáo kể trên có giá trị hay không? Tôi phải làm gì để thực hiện đúng quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của 1 thành viên BKS?
Trả lời:
Quyền và nhiệm vụ của BKS được quy định tại Điều 123 Luật Doanh nghiệp, theo đó BKS hoạt động như là một “ban” chứ không phải hoạt động trên tư cách từng thành viên. Hơn nữa khoản 2 Điều 121 Luật Doanh nghiệp có quy định: "Quyền và nhiệm vụ của Trưởng ban kiểm soát do Điều lệ Công ty quy định." Do đó, để xác định: (i) việc vận hành của BKS và (ii) giá trị của Báo cáo của BKS hàng năm chỉ do Trưởng BKS lập và trình ĐHĐCĐ năm 2010 như trên, bạn cần phải kiểm tra thêm các điều khoản của Điều lệ Công ty. Nếu Điều lệ Công ty quy định Trưởng BKS có quyền tự mình thông qua báo cáo, thì việc vận hành và lập báo cáo của BKS phải tuân thủ theo quy định đó. Trong trường hợp Điều lệ Công ty không có quy định, thì Bản báo cáo hằng năm của BKS phải do BKS cùng thông qua. Trong trường hợp đó, báo cáo chỉ do Trưởng BKS lập và trình ĐHĐCĐ là không phù hợp theo quy định pháp luật, nên không có giá trị pháp lý.
Theo Khoản 1 Điều 123 Luật Doanh nghiệp, BKS phải chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ trong khi thực hiện các nhiệm vụ được giao, nên khi phát hiện bản báo cáo trên phản ánh những thông tin không trung thực, bạn cần phải thông báo cho ĐHĐCĐ biết về sự việc trên.
Một trong những quyền và nhiệm vụ của BKS được quy định cụ thể tại Điều 123 Luật Doanh nghiệp là thẩm định và trình báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh hằng năm của công ty và báo cáo đánh giá quản lý của Hội đồng quản trị ("Các Báo cáo") lên ĐHĐCĐ tại cuộc họp thường niên. Các Báo Cáo này phải được gửi đến BKS để thẩm định chậm nhất 30 ngày trước ngày khai mạc cuộc họp thường niên của ĐHĐCĐ nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Trong thời hạn trên, nếu bạn là thành viên BKS mà không nhận được các báo cáo trên, thì có quyền yêu cầu được cung cấp các báo cáo trên để bạn có thể thực hiện nhiệm vụ thẩm định Các Báo Cáo của BKS như luật định.
Các mục khác:
- » Câu hỏi :: Xin hỏi Công ty đại chúng (CTĐC) phải công bố thông tin bất thường trong những trường hợp nào? (02/10/2009)
- » Câu hỏi :: Công ty chúng tôi là công ty đã niêm yết trên HNX. Trong quá trình hoạt động, chúng tôi có những bí mật công nghệ kinh doanh cần được bảo mật tuyệt đối. Tuy nhiên, một số nhân viên khi làm việc tại công ty biết được những thông tin bí mật đó, giờ họ không làm việc cho công ty nữa. Vậy, chúng tôi phải làm gì để có thể ràng buộc những nhân viên đó phải bảo vệ bí mật thông tin? (18/09/2009)
- » Câu hỏi :: Chúng tôi là một nhóm nhà đầu tư nhỏ tham gia một số công ty đại chúng (CTĐC). Được biết, ngày 24/6/2009, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã ban hành Công văn số 1234/UBCK-QLPH về việc rà soát điều lệ của các công ty đại chúng. Công văn này yêu cầu công ty đại chúng bắt buộc phải thực hiện rà soát điều lệ công ty và có kế hoạch sửa ngay các quy định trái pháp luật hiện hành, chậm nhất là tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2009. Sau thời hạn này, công ty đại chúng nào vẫn có điều lệ trái với quy định của pháp luật sẽ bị xem xét, xử lý theo quy định. Xin hỏi pháp luật xử lý trường hợp này như thế nào? (11/09/2009)
- » Câu hỏi :: Hiện nay, có một số công ty chứng khoán (CTCK) cho phép NĐT (NĐT) được bán cổ phần khi T+3 thậm chí T+2. Theo quy trình hiện hành thì cổ phần mua đến chiều T+3 về và T+4 được bán. Như vậy, các CTCK cho phép NĐT bán T+2, T+3 là đã vi phạm pháp luật về điều khoản cấm bán khống. Vì vậy, xin hỏi pháp luật hiện hành xử lý ra sao đối với trường hợp cố tình lũng đoạn thị trường của một số CTCK? (01/09/2009)
- » Câu hỏi :: Tại Điều lệ của Công ty Cổ phần C mà chúng tôi là một cổ đông có quy định rằng cổ đông A (là một tổ chức) nắm giữ 4% tổng số cổ phần có quyền: Phê duyệt Điều lệ công ty; sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty khi cần thiết; quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hàng năm; quyết định tăng vốn điều lệ của công ty. Xin hỏi, Điều lệ công ty quy định như trên có đúng với quy định pháp luật không? (21/08/2009)
Tiếng Việt
English









