Mục hỏi đáp
:: Câu hỏi :: Công ty chúng tôi là công ty đã niêm yết trên HNX. Trong quá trình hoạt động, chúng tôi có những bí mật công nghệ kinh doanh cần được bảo mật tuyệt đối. Tuy nhiên, một số nhân viên khi làm việc tại công ty biết được những thông tin bí mật đó, giờ họ không làm việc cho công ty nữa. Vậy, chúng tôi phải làm gì để có thể ràng buộc những nhân viên đó phải bảo vệ bí mật thông tin?
Trả lời:
Về nguyên tắc, khi nhân viên ký hợp đồng lao động để làm việc cho công ty bạn thì sẽ phát sinh quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động là công ty bạn và người lao động (NLĐ) là nhân viên đó. Khi đó, tất cả các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của nhân viên đối với công ty bạn sẽ tuân theo quy định của pháp luật lao động, quy chế quản lý nội bộ của công ty, nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể (nếu có).
Tuy nhiên, khi nhân viên đó không còn làm việc cho công ty bạn nữa, hợp đồng lao động đã chấm dứt cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt quan hệ lao động giữa công ty bạn và nhân viên đó. Lúc này, quan hệ giữa các bên nếu được thiết lập sẽ là quan hệ dân sự thuần túy và được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự.
Bộ luật lao động quy định: NLĐ khi làm việc cho doanh nghiệp có trách nhiệm bảo vệ tài sản, bí mật công nghệ kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu NLĐ có hành vi tiết lộ bí mật công nghệ kinh doanh thì có thể bị xử lý kỷ luật sa thải (theo quy định tại Điều 85 Bộ Luật lao động).
Ngoài ra, tại Điều 129 Bộ luật lao động còn quy định: NLĐ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, nếu có hành vi tiết lộ bí mật công nghệ kinh doanh của doanh nghiệp thì còn phải bồi thường thiệt hại.
Để có thể kiểm soát và ràng buộc trách nhiệm của những nhân viên đối với việc bảo vệ bí mật kinh doanh của doanh nghiệp sau khi họ không còn làm việc cho doanh nghiệp nữa, công ty bạn có thể ký Cam kết bảo mật thông tin với những người đó, trong đó quy định những người này khi không còn làm việc cho doanh nghiệp nữa vẫn phải tuyệt đối bảo vệ bí mật công nghệ kinh doanh cho doanh nghiệp và quy định một mức bồi thường thiệt hại nếu họ có hành vi vi phạm. Cam kết này được coi là thỏa thuận dân sự và ràng buộc trách nhiệm của những nhân viên đó theo pháp luật về dân sự.
Các mục khác:
- » Câu hỏi :: Khi các Công ty cổ phần muốn phát hành thêm cổ phần để tăng vốn điều lệ, pháp luật quy định ra sao về tỷ lệ số vốn muốn phát hành thêm so với tổng vốn điều lệ hiện có. Pháp lụât có giới hạn số vốn mà doanh nghiệp được phép tăng trong 1 năm hay không? (17/03/2010)
- » Câu hỏi :: Gần đây trên thị trường chứng khoán (TTCK) có một số doanh nghiệp phát hành trái phiếu chuyển đổi (TPCĐ). TPCĐ là gì và điều kiện để phát hành TPCĐ ? (08/03/2010)
- » Câu hỏi :: Cổ phiếu của doanh nghiệp tôi đang niêm yết trên HOSE. Doanh nghiệp có tăng vốn điều lệ dưới phương thức phát hành thêm cổ phiếu để chào bán cho các nhà đầu tư trong năm 2009. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp đăng ký hồ sơ tăng vốn điều lệ tại Sở kế hoạch và đầu tư, cơ quan này đã không đồng ý với Biên bản kiểm phiếu lấy ý kiến bằng văn bản của các cổ đông công ty về việc này mà yêu cầu công ty chúng tôi phải cung cấp bản sao Biên bản họp của Đại Hội đồng Cổ đông của công ty. Vấn đề này pháp luật quy định ra sao ? (05/03/2010)
- » Câu hỏi :: Ngân hàng chúng tôi đã được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) chấp thuận cho phép phát hành cổ phần ra công chúng để tăng vốn điều lệ. Theo quy định hiện hành, khoản tiền nhà đầu tư chuyển đến mua cổ phần của DN phải được chuyển đến một tài khoản phong tỏa tại một Ngân hàng thương mại (NHTM). Vậy chúng tôi có được mở tài khoản này tại chính ngân hàng mình hay không? (25/01/2010)
- » Câu hỏi :: Nhà đầu tư (NĐT) bán số chứng khoán (CK) đang trên đường về tài khoản có phải là bán khống hay không ? (21/01/2010)
Tiếng Việt
English








