Mục hỏi đáp
:: Câu hỏi :: Hiện nay, có một số công ty chứng khoán (CTCK) cho phép NĐT (NĐT) được bán cổ phần khi T+3 thậm chí T+2. Theo quy trình hiện hành thì cổ phần mua đến chiều T+3 về và T+4 được bán. Như vậy, các CTCK cho phép NĐT bán T+2, T+3 là đã vi phạm pháp luật về điều khoản cấm bán khống. Vì vậy, xin hỏi pháp luật hiện hành xử lý ra sao đối với trường hợp cố tình lũng đoạn thị trường của một số CTCK?
Trả lời:
Theo Quy trình giao dịch chứng khoán tại một số trung tâm giao dịch chứng khoán, thì có một số hình thức thanh toán như thanh toán đa phương (T+3), thanh toán song phương và thanh toán trực tiếp (từ T+1 đến T+3, do hai bên thoả thuận). Trong đó, hình thức thanh toán trực tiếp có thể được áp dụng với các giao dịch có cổ phiếu với khối lượng lớn hơn hoặc bằng 100.000 cổ phần, hoặc trái phiếu với mệnh giá lớn hơn hoặc bằng 10.000.000.000 đồng (“Giao dịch lớn”). Như vậy, riêng đối với các Giao dịch lớn, thì đến T+1, hoặc T+2, hoặc T+3 thì cổ phần đã về tài khoản của Nhà đầu tư (NĐT) (người mua). Nếu lựa chọn T+1 hoặc T+2, thì tương ứng, đến T+2 hoặc T+3, NĐT hoàn toàn được phép bán một phần hoặc toàn bộ số cổ phần mới được mua về đó.
Ngoại trừ các giao dịch lớn, các giao dịch khác phải tuân thủ theo hình thức thanh toán đa phương (T+3). Trong trường hợp này, đến T+3 thì cổ phần về tài khoản của NĐT. Và do vậy, chỉ đến T+4 thì NĐT mới được quyền bán lại cổ phần mới mua về cho NĐT khác.
Tuy nhiên, hiện nay, có một số công ty chứng khoán (CTCK) cho phép Nhà đầu tư (NĐT) được bán chứng khoán khi chứng khoán chưa về tài khoản của NĐT. Như vậy, các CTCK cho phép NĐT bán chứng khoán khi chưa sở hữu chứng khoán là đã vi phạm pháp luật về điều khoản cấm bán khống.
Theo khoản 9 Điều 71 Luật Chứng khoán quy định về nghĩa vụ của CTCK là “thực hiện việc bán hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán và cho khách hàng vay chứng khoán để bán theo quy định của Bộ Tài chính”.
Như vậy, pháp luật không cấm việc CTCK cho phép NĐT được bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán (bán khống), nhưng phải theo quy định của Bộ Tài chính. Hiện tại, Bộ Tài chính vẫn chưa ban hành quy định về bán khống chứng khoán. Theo lộ trình tại Quyết định số 701/QĐ-UBCK ngày 20/11/2006 ban hành về Kế hoạch phát triển CTCK giai đoạn 2006-2010, thì đến năm 2009 sẽ Ban hành Quy chế cho phép CTCK cho khách hàng thực hiện giao dịch vay tiền mua chứng khoán, bán khống chứng khoán.
Tuy nhiên, tính đến thời điểm mà bạn hỏi thì Quy chế về bán khống chứng khoán vẫn chưa được ban hành. Do vậy, hiện nay, mọi giao dịch mua, bán chứng khoán sẽ phải tuân theo những quy định pháp luật về chứng khoán hiện hành.
Theo khoản 5 Điều 33 Quy chế Tổ chức và hoạt động của CTCK ban hành kèm theo Quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/04/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì “CTCK chỉ được nhận lệnh của khách hàng có đủ tiền và chứng khoán theo quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và phải có các biện pháp cần thiết để đảm bảo khả năng thanh toán của khách hàng khi lệnh giao dịch được thực hiện”.
Ngoài ra, theo Quy chế Giao dịch Chứng khoán tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội ban hành kèm theo Quyết định số 353/QĐ-TTGDHN ngày 26/11/2007 của Giám đốc Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, tại Điều 9 quy định như sau: “Khi đặt lệnh bán chứng khoán hoặc lệnh chào bán giao dịch thỏa thuận, NĐT phải có đủ số lượng chứng khoán đặt bán trên tài khoản giao dịch chứng khoán mở tại thành viên, ngoại trừ có quy định khác của Bộ Tài chính”.
Theo Quy chế Giao dịch chứng khoán tại Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ban hành kèm theo Quyết định số 124/QĐ-SGDHCM ngày 09/10/2007 của Tổng Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, và Quyết định số 40/QĐ-SGDHCM ngày 24/11/2008 sửa đổi, bổ sung Quy chế Giao dịch chứng khoán tại Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, tại Điều 22.3 quy định như sau: “Khi đặt lệnh bán chứng khoán hoặc quản cáo bán chứng khoán (khi đặt lệnh mua chứng khoán hoặc quảng cáo mua chứng khoán), số dư chứng khoán (số dư tiền) trên tài khoản của khách hàng mở tại thành viên phải đáp ứng các điều kiện về tỷ lệ ký quỹ chứng khoán (tiền)”.
Theo đó, khi chứng khoán chưa về tài khoản của NĐT thì NĐT chưa được phép đặt lệnh bán chứng khoán đó, và CTCK không được nhận lệnh bán của NĐT khi chưa có chứng khoán trong tài khoản của NĐT, tức là không được bán khống.
Nếu CTCK vẫn thực hiện lệnh bán chứng khoán của NĐT khi chứng khoán chưa về tài khoản của NĐT là đã vi phạm pháp luật và sẽ bị xử phạt theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 20 Nghị định số 36/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán: “Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với CTCK thực hiện việc bán hoặc cho khách hàng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán mà luật pháp chưa cho phép”. Ngoài ra, CTCK còn bị các hình thức phạt bổ sung như sau: Tước quyền sử dụng giấy phép thành lập và hoạt động của CTCK trong thời hạn bốn mươi lăm ngày; Tịch thu các khoản thu trái pháp luật do hành vi vi phạm; Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc chấp hành đúng các qui định về hoạt động kinh doanh chứng khoán đối với hành vi phạm nêu trên. Thẩm quyền xử phạt là Chánh Thanh tra hoặc Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Ls Pham Thị Bích Liên và Ngô Thi Bích Phương
Công ty Luật Hợp danh Luật Việt.
Click vào đây để xem mục hỏi đáp chứng khoán đăng trên báo Đầu tư Chứng khoán số 103 ngày 28/8/2009
Các mục khác:
- » Câu hỏi :: Trả lời câu hỏi: Tổng công ty A với việc chỉ nắm giữ 36% cổ phần tại Công ty cổ phần B thì có quyền miễn nhiệm TGĐ hay ra bất kỳ quyết định nào liên quan đến Công ty cổ phần B không?...... (24/03/2009)
- » Câu hỏi: Tại Khoản 2 Điều 29 của Nghị định 14/2007/NĐ-CP (“Nghị định 14”) quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán quy định... (24/03/2009)
- » Câu hỏi :: Việc thay đổi thành viên HĐQT do Đại hội đồng cổ đông quyết định hay do HĐQT quyết định? HĐQT quyết định thay đổi thành viên HĐQT bằng cách lấy ý kiến của các thành viên HĐQT thì có hợp lệ? (14/03/2009)
- » Câu hỏi :: Sudico (13/03/2009)
Tiếng Việt
English







