| PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH Luật Cạnh tranh năm 2004 đã được ban hành để quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh. Hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, độc quyền và thống lĩnh thị trường, và tập trung kinh tế. Theo Luật cạnh tranh, các tổ chức, cá nhân kinh doanh tại Việt Nam được pháp luật bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp. Việc cạnh tranh phải đảm bảo tuân thủ pháp luật và các nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến quyền lợi ích của nhà nước, công cộng, các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng. |
| Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường. Các hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế. Các tổ chức, cá nhân đầu tư kinh doanh tại Việt Nam nếu vi phạm các quy định cấm về hành vi hạn chế cạnh tranh có thể bị xử phạt với mức rất cao, lên tới 10% tổng doanh thu của (các) doanh nghiệp bị vi phạm trong năm tài chính. Ngoài ra, còn có thể phải chịu các hình thức xử phạt bổ sung như thu hồi giấy đăng ký kinh doanh và các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc cơ cấu lại doanh nghiệp, buộc bán lại phần doanh nghiệp đã mua, buộc chia, tách, doanh nghiệp đã tiến hành hợp nhất, sáp nhập. |
|
a. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
|
Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh là việc thoả thuận nhằm (i) ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; (ii) phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ; (iii) hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ; (iv) hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; (v) áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; (vi) ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; (vii) loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận; (viii) thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ. |
|
b. Độc quyền
và thống lĩnh thị trường |
Doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường là doanh nghiệp không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường. Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường là doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể hoặc nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường khi nhóm doanh nghiệp có thị phần 50% trở lên. Các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền bị cấm thực hiện một số hành vi được quy định trong Luật cạnh tranh mà có thể gây hạn chế cạnh tranh hoặc thiệt hại cho các doanh nghiệp khác. |
|
c.Tập trung kinh tế
|
Tập trung kinh tế là việc các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường trong cùng lĩnh vực hoặc cùng lĩnh vực liên quan tiến hành các hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh với nhau tạo thành một doanh nghiệp mới có năng lực cạnh tranh tổng hợp nhằm thay đổi cấu trúc cơ cấu thị phần cạnh tranh trên thị trường. Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp được miễn trừ hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa. |
| Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh tại Việt Nam không được thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã được quy định trong Luật cạnh tranh và Luật sở hữu trí tuệ. |
Tiếng Việt
English








