| PHẦN III |
MUA BÁN, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM |
| PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH HIỆP ĐỊNH TRÁNH |
|
2.Các lưu ý đối với nhà đầu tư nước ngoài
|
ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VIỆT NAM ĐÃ KÝ KẾT Cùng với quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp đã xuất hiện nhiều trong thời gian gần đây tại Việt Nam. Các vụ mua bán, sáp nhập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài để thâu tóm quyền kiểm soát doanh nghiệp lại chủ yếu tập trung trong các thương vụ đầu tư thỏa thuận của các quỹ đầu tư nước ngoài và một phần là giữa các doanh nghiệp trong nước với nhau. Mua bán, sáp nhập doanh nghiệp dẫn đến “tập trung kinh tế” hầu như chưa xảy ra trên thực tế. Về khía cạnh pháp luật, hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp được nhiều quy định pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau điều chỉnh và không có quy chế riêng để điều chỉnh hoạt động mua bán, sáp nhập. Hiện tại, hoạt động mua bán, sáp nhập tại Việt Nam có thể diễn ra dưới các hình thức sau: • Mua / bán cổ phần (đối với công ty cổ phần) hoặc phần vốn góp (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn). Hoạt động này bao gồm việc góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp thông qua việc góp vốn điều lệ hoặc mua cổ phần tăng vốn của công ty hoặc việc mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần của các cổ đông hiện hữu. Cả hai hoạt động này đều dẫn đến việc thay đổi cơ cấu vốn và chủ sở hữu trong công ty. • Mua bán doanh nghiệp. Mua, bán doanh nghiệp chỉ được áp dụng đối với doanh nghiệp tư nhân và một số doanh nghiệp nhà nước hoặc bộ phận của doanh nghiệp nhà nước được phép bán theo quy định của pháp luật về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê công ty nhà nước. • Chia /tách doanh nghiệp hoặc sáp nhập hoặc hợp nhất doanh nghiệp; - Chia doanh nghiệp là việc một công ty được chia thành một số công ty cùng loại. Công ty bị chia sẽ chấm dứt tồn tại và xuất hiện nhiều công ty mới từ công ty bị chia. • Mua tài sản hoặc một bộ phận kinh doanh độc lập (nhưng không mua toàn bộ doanh nghiệp) là việc một doanh nghiệp mua lại toàn bộ hoặc một hoặc một số bộ phận kinh doanh độc lập hoặc một cơ sở sản xuất của một doanh nghiệp khác. Điều này trên thực tế thường được áp dụng tại các thị trường mới nổi như Việt Nam để tránh các rủi ro tiềm ẩn nếu mua doanh nghiệp. • Bên nước ngoài (hoặc bên Việt Nam) mua lại toàn bộ phần vốn của đối tác trong công ty liên doanh để chuyển thành công ty 100% vốn sở hữu của bên mua; • Chào mua công khai. Đây là việc chào mua cổ phiếu có quyền biểu quyết dẫn đến việc sở hữu từ hai mươi lăm phần trăm trở lên số cổ phiếu đang lưu hành của một công ty đại chúng hoặc chào mua mà đối tượng được chào mua bị bắt buộc phải bán cổ phiếu mà họ sở hữu. • Mua cổ phần từ công ty bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Hình thức này chỉ xuất hiện trong các doanh nghiệp liên doanh, trong đó bên nước ngoài trong liên doanh bị một bên khác tại nước ngoài mua lại toàn bộ doanh nghiệp hoặc đa số vốn, và bên mua sẽ gián tiếp trở thành “bên nước ngoài” trong doanh nghiệp liên doanh thông qua việc sở hữu hoặc kiểm soát vốn hoặc quyền quản lý của bên nước ngoài đó. |
| Trên một số lĩnh vực, luật pháp Việt Nam và các cam kết song phương hoặc đa phương của Việt Nam, đặc biệt là các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, có một số hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài. Cụ thể, nhà đầu tư nước ngoài cần quan tâm đến các hạn chế sau: • Hạn chế về tỷ lệ nắm giữ. Hiện nay nhà đầu tư nước ngoài chỉ có thể nắm giữ tối đa 49% tổng số cổ phiếu của công ty cổ phần đại chúng, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác, ví dụ như tổng mức sở hữu cổ phần của tất cả các nhà đầu tư nước ngoài và người có liên quan không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng hoặc các trường hợp khác (xem thêm Phần X - Dịch vụ tài chính). Hạn chế về chuyển nhượng. Trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng lập của một công ty cổ phần chỉ được chuyển nhượng cổ phần của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông. • Hạn chế về đối tượng nhận chuyển nhượng. Trong một số quy định của pháp luật Việt Nam, một số hạn chế có thể được áp dụng đối với người nhận chuyển nhượng, chẳng hạn như chỉ có tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài mới được góp vốn, mua cổ phần thành lập công ty chứng khoán, hoặc chỉ có tổ chức kinh doanh chứng khoán có nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán hoặc tổ chức kinh doanh bảo hiểm nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần thành lập công ty quản lý quỹ với tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài tối đa là 49% vốn điều lệ. • Trong một số trường hợp cụ thể, có một số hạn chế về hình thức đầu tư, hoặc quyền sở hữu hoặc sử dụng tài sản khác khiến nhà đầu tư nước ngoài không thể sở hữu 100% vốn của một doanh nghiệp. Ngoài những vấn đề cơ bản nêu trên, nhà đầu tư cần chú ý thêm các vấn đề liên quan đến sử dụng lao động, thuế và quyền sử dụng đất trong các thương vụ mua bán, sáp nhập. Việc sử dụng tư vấn là hết sức cần thiết trong các thương vụ mua bán, sáp nhập trong bối cảnh khung pháp lý về hoạt động này ở Việt Nam chưa được phát triển và ổn định. |
Tiếng Việt
English








