|
PHẦN X
|
THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
|
|
So với các nước trong khu vực, Việt Nam mới đang bước đầu phát triển thị trường dịch vụ tài chính. Nhà nước Việt Nam chủ trương đa dạng hoá thị trường dịch vụ tài chính và khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư vào thị trường này. Đồng thời các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường dịch vụ tài chính được sửa đổi liên tục nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư.
Ngoài những trình bày chính được nêu ra dưới đây, các nhà đầu tư nước ngoài còn phải tuân theo Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam liên quan đến thị trường tài chính (xem Phần II , Lộ trình mở thị trường dịch vụ Việt Nam theo nội dung cam kết WTO). |
|
Hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam được phân chia thành Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước, theo cấu trúc sau:
![]()
Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam là cơ quan quản lý trong lĩnh vực ngân hàng, thực hiện việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát đối với các tổ chức tín dụng, cũng như chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần trong ngân hàng thương mại của nhà đầu tư. |
|
a. Ngân hàng thương mại
|
Nhà đầu tư nước ngoài có thể thành lập ngân hàng thương mại hoặc góp vốn, mua cổ phần trong ngân hàng thương mại, mở văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài và mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
Thành lập ngân hàng thương mại - Một nhà đầu tư nước ngoài không phải là tổ chức tín dụng và người có liên quan của nhà đầu tư nước ngoài đó được mua tối đa 5% vốn điều lệ của ngân hàng thương mại; Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức tín dụng thì cần phải một số điều kiện khác (xem phụ lục III về thị trường dịch vụ tài chính). |
|
b. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng
|
Công ty tài chính
Công ty tài chính không phải là ngân hàng thương mại. Công ty tài chính có thể sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán và không được nhận tiền gửi dưới một năm. Công ty cho thuê tài chính Công ty cho thuê tài chính thực hiên hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua các thiết bị trên theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê sẽ mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính. Các tổ chức tín dụng khác Bao gồm quỹ tín dụng nhân dân, hợp tác xã tín dụng và một số hình thức tổ chức tín dụng hợp tác khác. |
|
a. Thị trường chứng khoán
|
Thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động được khoảng 10 năm và đã có những bước phát triển vượt bậc trong năm 2006, 2007. Nhà đầu tư có thể tham gia thị trường chứng khoán niêm yết tại các sở giao dịch chứng khoán hoặc mua bán cổ phiếu trực tiếp trên thị trường không thông qua các sở giao dịch (thị trường OTC).
Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam hiện có hai sở giao dịch chứng khoán là Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, tiền thân là Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh. HOSE là sở giao dịch chứng khoán lớn nhất tại Việt Nam trên phương diện quy mô, số lượng tổ chức niêm yết và vốn. Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, tiền thân là Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. HNX chỉ niêm yết cổ phiếu và trái phiếu. Điều kiện niêm yết tại HNX tương đối giống với điều kiện niêm yết tại HOSE, tuy nhiên mức vốn điều lệ cần có để các công ty niêm yết tại HNX thấp hơn mức vốn điều lệ cần có để niêm yết tại HOSE. Thị trường OTC Thị trường OTC giao dịch chủ yếu là các chứng khoán chưa niêm yết. Việc xác lập giá trên thị trường OTC được thực hiện thông qua phương thức thương lượng và thoả thuận trực tiếp giữa bên mua va bên bán hoặc qua các trung gian là môi giới chứng khoán. Giao dịch cổ phiếu OTC chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn. |
|
b. Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước
|
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (State Securities Commission of Vietnam - SSC) là cơ quan thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán; cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán của Công ty chứng khoán, Công ty quản lý quỹ, các quỹ đầu tư và công ty đầu tư chứng khoán, các văn phòng đại diện của các tổ chức chứng khoán nước ngoài và cấp phép cho các cá nhân hành nghề chứng khoán tại các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ.
|
|
c. Trung tâm lưu
ký chứng khoán Việt Nam |
Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (Vietnam Securities Depository - VSD) là Công ty TNHH một thành viên thuộc sở hữu nhà nước thực hiện chức năng tổ chức đăng ký và giám sát hoạt động lưu ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ hoàn tất giao dịch chứng khoán cho các chứng khoán niêm yết tại HOSE, HNX và chứng khoán của công ty đại chúng chưa niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
|
d. Công ty đại
chúng |
Công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong ba trường hợp (i) đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; (ii) có cổ phiếu được niêm yết tại HOSE hoặc HNX; và (iii) Công ty có cổ phiếu được ít nhất 100 nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên.
|
|
e. Nhà đầu tư
nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán |
Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua việc:
- Ggiao dịch các loại chứng khoán đã niêm yết tại HNX hoặc HOSE; đã hoặc chưa đăng ký giao dịch tại các công ty chứng khoán; - Tham gia đấu giá mua chứng khoán, cổ phần tại các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa; - Tham gia góp vốn thành lập quỹ đầu tư chứng khoán hoặc góp vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam. Nhà đầu tư phải đăng ký mã số giao dịch chứng khoán với VSD thông qua thành viên lưu ký và mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp tại một ngân hàng lưu ký được phép kinh doanh ngoại hối và chỉ được sử dụng các nguồn vốn tại tài khoản vốn đầu tư gián tiếp để thực hiện các hoạt động đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể ủy thác vốn và tài sản trên cơ sở hợp đồng quản lý đầu tư với một công ty quản lý quỹ đầu tư trong nước để đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài bị hạn chế về tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ của công ty đại chúng. Ngoại trừ các trường hợp theo quy định cụ thể trên một số lĩnh vực như tài chính – ngân hàng, nhà đầu tư nước ngoài không được nắm giữ hơn 49 % vốn điều lệ của công ty cổ phần đại chúng hoặc quỹ đầu tư đại chúng. Tỷ lệ nắm giữ trái phiếu của nhà đầu tư nước ngoài sẽ do tổ chức phát hành quy định. |
|
f. Công ty chứng khoán và Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
|
Các nhà đầu tư nước ngoài có thể thành lập công ty chứng khoán/công ty quản lý quỹ liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài và chi nhánh công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ nước ngoài (phụ thuộc vào lộ trình mở cửa dịch vụ tài chính theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam) và thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể mua cổ phần của các công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán phụ thuộc vào tỷ lệ hạn chế chung như tỷ lệ hạn chế đối với các công ty niêm yết khác.
Công ty chứng khoán Một công ty chứng khoán có thể bao gồm một hoặt tất cả các nghiệp vụ sau (i) môi giới chứng khoán (ii) tự doanh chứng khoán (iii) bảo lãnh phát hành chứng khoán; hoặc (iv) tư vấn đầu tư chứng khoán. Mỗi loại nghiệp vụ chứng khoán có điều kiện về vốn pháp định khác nhau. Nếu nhà đầu tư đề nghị cấp giấy phép cho nhiều nghiệp vụ kinh doanh, vốn pháp định là tổng số vốn pháp định tương ứng với từng nghiệp vụ xin cấp phép. Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được phép hoạt động cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. |
|
g. Các hình thức đầu tư tập thể
|
Quỹ đầu tư chứng khoán
Theo Luật Chứng khoán, quỹ đầu tư có thể tồn tại dưới hình thức quỹ đầu tư đại chúng hoặc quỹ đầu tư thành viên. Ngoài ra, quỹ đầu tư còn có thể là quỹ đóng hoặc quỹ mở. Mặc dù Luật chứng khoán đã cho phép thành lập quỹ mở, nhưng trên thực tế, việc thành lập quỹ mở đang chờ đợi các hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. - Quỹ đại chúng là một quỹ có thể niêm yết tại HOSE và chủ yếu dành cho các nhà đầu tư cá nhân. Bên cạnh các quỹ đầu tư trong nước, các quỹ đầu tư nước ngoài hoạt động khá mạnh mẽ trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động của các quỹ đầu tư nước ngoài chưa được điều chỉnh một cách cụ thể. Các quỹ đầu tư nước ngoài thông thường hoạt động thông qua các văn phòng đại diện đặt tại Việt Nam. Công ty đầu tư chứng khoán Công ty đầu tư chứng khoán là một loại hình đầu tư đặc biệt, toàn bộ vốn và tài sản của công ty được đầu tư vào chứng khoán. Công ty đầu tư chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần. Công ty có thể tự quản lý vốn đầu tư hoặc ủy thác cho một công ty quản lý quỹ quản lý hoặc thuê công ty quản lý quỹ tư vấn đầu tư và tự mình thực hiện giao dịch. |
|
Việt Nam không hạn chế hình thức đầu tư đối với công ty bảo hiểm, bao gồm bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ và công ty môi giới bảo hiểm của nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài tại Việt Nam.
Nhà đầu tư nước ngoài được quyền thành lập (i) công ty liên doanh (ii) công ty 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, cũng như thành lập văn phòng đại diện hoặc chi nhánh của công ty bảo hiểm và công ty môi giới bảo hiểm tại Việt Nam. Riêng đối với công ty bảo hiểm phi nhân thọ, từ ngày 11/1/2012, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài sẽ được phép thành lập chi nhánh. |
Tiếng Việt
English









